Quá trình hình thành và phát triển của nhạc popular music

03/05/2019 29

Khái niệm và phân loại nhạc phổ thông, nhạc truyền thống, nhạc cổ điển tại Việt Nam vẫn còn rất mơ hồ, và không phải ai hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc đều có khái niệm đúng về các thể loại nhạc này.

Đó chính là lý do Việt Thương Music xin trích đăng các bài viết của tác giả Hoài Nam – tủ sách T.Vấn & Bạn Hữu giới thiệu đến quý bạn đọc, mong sẽ giúp các bạn hiểu hơn về vấn đề trên.

Thế nào là popular music

“Popular music” là nhạc dành cho đại chúng.

Popular music được trang mạng bách khoa Wikipedia định nghĩa như sau:

Popular music belongs to any of a number of musical genres “having wide appeal" and is typically distributed to large audiences through the music industry. It stands in contrast to both art music and traditional, which are typically disseminated academically or orally to smaller, local audiences. (Nhạc phổ thông là những sáng tác thuộc bất cứ thể loại nhạc nào trong số những thể loại “có sức thu hút rộng rãi” và được kỹ nghệ ca nhạc phổ biến tới đông đảo thính giả. Nhạc phổ thông tương phản với nhạc thuần nghệ thuật và nhạc truyền thống, vốn thường được phổ biến tới một số lượng thính giả nhỏ hơn, hoặc thính giả địa phương).

Hàng chữ ...any of a number of musical genres “having wide appeal”... đã cho chúng ta thấy tính cách bao quát, thậm chí mơ hồ của định nghĩa về “popular music”.

Bởi vì trong khi người ta có thể đồng ý với nhau “a number of musical genres” ấy là vào khoảng 20 thể loại khác nhau, thì lại bất đồng ý kiến về thế nào là“having wide appeal”: bán được nhiều đĩa, được phát thanh nhiều lần, được nhiều tầng lớp thính giả ưa thích?

Theo Wikipedia, chữ “popular music” bắt đầu được người Mỹ sử dụng vào thập niên 1880, thời gian hình thành của nhóm “Tin Pan Alley”, gồm các nhà xuất bản nhạc và các nhạc sĩ tiên phong của nền nhạc phổ thông.

Cái nôi của nhạc pop

“Tin Pan Alley” nguyên là tên của một con hẻm ở khu Mã-nhậttân (Manhattan), thành phố Newyork, nằm trên West 28th Street, đoạn giữa Fifth và Sixth Avenue, là nơi tập trung các cửa tiệm bán nhạc cụ, các cơ sở xuất bản nhạc và giới nhạc sĩ nói trên, về sau đã được sử dụng để gọi nhóm này. Có thể viết, Tin Pan Alley chính là cái nôi của nền nhạc phổ thông

Ngày nay, con hẻm Tin Pan Alley không còn nữa, chỉ còn một tấm plaque ở West 28th Street để ghi nhớ.

Theo các nhạc sử gia cũng như nội dung tấm plaque, nền nhạc phổ thông của Hoa Kỳ phát triển mạnh vào những thập niên đầu của thế kỷ 20 cho tới khi xảy ra cuộc Đại khủng hoảng (Great Depression, thập niên 1930). Vì những ca khúc của thời đó hiện nay được người yêu nhạc trên thế giới biết tới cũng chẳng có bao nhiêu, trong phạm vi bài này, chúng tôi xin bắt đầu với thời gian sau Đệ nhị Thế chiến, thời gian mà mọi bộ môn nghệ thuật của Hoa Kỳ bắt đầu phát triển, hoặc phục hồi.

Những tên tuổi nổi bật của làng nhạc pop

Tên tuổi lớn nhất của nền nhạc phổ thông Mỹ thời hậu chiến là nam ca nhạc sĩ gốc Phi châu Nat King Cole (1919-1965).

 

Nat King Cole tên thật là Nathaniel Adams Coles, xuất thân là một nhạc sĩ dương cầm có hạng trong làng nhạc jazz, nhưng về sau lại được người yêu nhạc trên khắp thế giới biết tới, và ái mộ qua giọng nam trung (baritone) êm như nhung của ông.

Khởi đầu sự nghiệp, Nat King Cole đàn dương cầm và hát trong những ban nhạc jazz nổi tiếng của Mỹ. Tới đầu thập niên 1950, ông chuyển hướng, bắt đầu thu đĩa những ca khúc phổ thông và đạt thành công rực rỡ, như Mona Lisa (1950), Too Young (1951), Unforgettable (1951), v.v…

Ngày ấy, Nat King Cole đã bị không ít người trong làng nhạc jazz phê bình là “mất gốc”, nhưng theo suy nghĩ của chúng tôi, và cũng là của nhiều người khác, đó lại là một điều hay cho người yêu nhạc thuộc mọi thành phần, tầng lớp. Bởi vì nói cho cùng, vẫn biết nhạc cổ điển, nhạc jazz có giá trị nghệ thuật cao, nhưng không phải tầng lớp, thành phần nào trong xã hội cũng có điều kiện và trình độ để thưởng thức.

Bản Too Young do Sidney Lippman viết nhạc và Sylvia Dee đặt lời, được Nat King Cole thu đĩa vào đầu năm 1951, đã đứng No.1 trên bảng xếp hạng của tạp chí ca nhạc Billboard năm tuần lễ liên tục, và nằm trong danh sách “best seller” suốt 29 tuần.

Tên tuổi thứ hai của nền nhạc phổ thông chúng tôi nhắc tới là Tony Bennett, một trong những nam ca sĩ Mỹ gốc Ý nổi tiếng của hậu bán thế kỷ thứ 20, và cũng là người duy nhất hiện còn sống, gồm:

- Perry Como (1912 - 2001)

- Frank Sinatra (1915 - 1998)

- Dean Martin (1917 - 1995)

- Mario Lanza (1921 - 1959)

- Tony Bennett (1926 - )

- Al Martino (1927 - 2009)

Tony Bennett tên thật là Anthony Dominick Benedetto, ra chào đời tại Newyork, có khiếu ca hát từ nhỏ. Cuối Đệ nhị Thế chiến, Tony Bennett phục vụ trong lực lượng Hoa Kỳ chiến đấu tại Âu châu. Sau khi giải ngũ, chàng trẻ tuổi đã tự luyện giọng theo kỹ thuật riêng của mình, được hãng đĩa Columbia Records ký hợp đồng, và tới năm 1951, bản Because of You, một ca khúc do Arthur Hammerstein và Dudley Wilkinson sáng tác vào năm 1940, được Tony Bennett thu đĩa đã lên tới No.1 trên bảng xếp hạng của tạp chí ca nhạc Billboard.

Tuy nhiên, phải đợi tới năm 1962, Tony Bennett mới thực sự trở thành một tên tuổi quốc tế qua ca khúc bất hủ I Left My Heart in San Francisco.Một cách chính xác, phải viết: ca khúc I Left My Heart in San Francisco đã trở nên bất hủ nhờ tiếng hát Tony Bennett.

I Left My Heart in San Francisco nguyên là một sáng tác của hai nhà viết ca khúc George Cory và Douglass Cross, nội dung nói về tâm trạng của một người dân San Francisco (Cựu Kim Sơn), đi bất cứ nơi nào trên thế giới, dù thơ mộng, to đẹp tới đâu, cũng mong trở về San Francisco, bởi lẽ trái tim của mình đã được để lại ở thành phố thân yêu ấy.

Viết năm 1953 và được một số ca sĩ lần lượt trình bày, nhưng phải đợi 9 năm sau, sau khi được Tony Bennett thu đĩa, I Left My Heart in San Francisco mới lên tới đỉnh cao, và mãi mãi ở trên đỉnh cao ấy.

Ba năm sau khi thu đĩa I Left My Heart in San Francisco, Tony Bennett đạt thêm một thành công khác với bản The Shadow of Your Smile, nguyên là một tình khúc viết riêng cho cuốn phim The Sandpiper (1965, do cặp Liz Taylor – Richard Burton thủ vai chính).

The Shadow of Your Smile là một tuyệt tác của nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng nổi tiếng Johnny Mandel và nhà đặt lời hát lừng danh Paul Francis Webster (ba lần đoạt giải Oscar cho ca khúc viết riêng cho phim). Trong năm 1965, bản The Shadow of Your Smile đã đoạt cả giải âm nhạc Grammy cho “Ca khúc hay nhất trong năm” lẫn giải điện ảnh Oscar cho “Ca khúc viết riêng cho phim hay nhất”.

The Shadow of Your Smile đã trở thành một trong những ca khúc phổ thông (hoặc jazz, tùy theo ban nhạc và người hát) được nhiều ca sĩ thu đĩa và nhiều ban nhạc trình bày nhất; đồng thời cũng là bản nhạc gần như bắt buộc của các tay kèn saxophone.

Trong số các ca sĩ Anh, Mỹ thu đĩa The Shadow of Your Smile, Barbra Streisand có lẽ là người được ái mộ nhất, vì giọng hát có một không hai cũng như nghệ thuật diễn tả tuyệt vời.

Qua năm 1966, tới lượt Frank Sinatra làm mưa gió trên các bảng xếp hạng với bản Strangers in the Night. Bản này đã đứng No.1 trên cả danh sách Hot 100 và Easy Listening của tạp chí ca nhạc Billboard, Hoa Kỳ, lẫn UK Singles Chart của Anh quốc.

Tại giải âm nhạc Grammy 1967, Strangers in the Night đã đoạt ba giải thưởng sau đây: Ca khúc trong năm, Nam ca sĩ nhạc pop hay nhất, và Hòa âm phối khí hay nhất.

Hai năm sau, chàng ca sĩ có biệt hiệu “Ol‟ Blue Eyes” lại làm mưa gió với bản My Way, về sau được đa số xem là ca khúc “cầu chứng” của Frank Sinatra; mặc dù chỉ đứng hạng 27 trong danh sách Hot 100, No.2 trong danh sách Easy Listening, và No.5 ở Anh quốc, nhưng đã tạo ra hai kỷ lục mà cho tới nay vẫn chưa có ca khúc (popular song) nào qua mặt: nằm trong Top 40 ở Anh trong suốt 75 tuần lễ liên tục, và là ca khúc được nhiều ca sĩ hát lại nhất.

Tuy nhiên, theo giới thưởng ngoạn, nếu chỉ xét về mặt nghệ thuật, đỉnh cao sự nghiệp của Frank Sinatra vẫn là bản Strangers in the Night.

Trên đây là một số ca khúc phổ thông điển hình trong hai thập niên 1950, 1960, được tạp chí ca nhạc Billboard xếp vào danh sách “Adult Top 40”, còn tại giải âm nhạc Grammy, được phân loại “traditional pop” (nhạc phổ thông truyền thống). Cũng xin có đôi hàng về “traditional pop”: tất cả mọi ca khúc trong nền nhạc phổ thông được gọi chung là “popular song”, hoặc ngắn gọn hơn là “pop song”, nhưng các nhà phê bình âm nhạc và giới thưởng ngoạn sành điệu thì lại phân biệt từng thể loại “pop”, chẳng hạn: “traditional pop”, “rock pop”, “folk pop”, “country pop”, “dance pop”, v.v...

Trong số các thể loại ấy, “traditional pop”, còn được gọi là “classic pop”, được đánh giá cao nhất, về nhạc, về lời, cũng như “độ bền” của nó nơi người yêu nhạc. Thí dụ điển hình là các bản La Vie en Rose, Mona Lisa, Unforgettable (Nat King Cole), Strangers in the Night, My Way (Frank Sinatra), You Don’t Have to Say You Love Me (Dusty Springfield)..., và lẽ dĩ nhiên không thể thiếu I Left My Heart in San Francisco (Tony Bennett). Hiện nay, tại giải thưởng thường niên Grammy của Hàn lâm viện Âm nhạc Hoa Kỳ (danh xưng đầy đủ là National Academy of Recording Arts and Sciences of the United States), có hai loại giải thưởng khác nhau cho “popular music” là: “traditional pop” (nhạc phổ thông truyền thống), và “pop”, được hiểu ngầm là “contemporary pop” (nhạc phổ thông đương đại).

Bài viết của tác giả Hoài Nam – Tủ sách T.Vấn và Bạn Hữu xuất bản năm 2017.

Bình luận

Bình luận
LIÊN HỆ
Chúng tôi sẽ giúp bạn tìm đúng giải pháp cho đam mê của bạn.
ĐĂNG KÝ NHẬN EMAIL CẬP NHẬT
Để lại email để nhận thông tin mới nhất.
Tôi đồng ý chia sẻ thông tin cá nhân của mình.